Năm giai thoại về Shakespeare

Việc tạo ra giai thoại về Shakespeare từ lâu đã là một điều phổ biến đến mức được gọi bằng thuật ngữ “sự sùng bái Shakespeare”.

Được xem là một trong những nhà văn hàng đầu của nền văn học viết bằng tiếng Anh. Nhưng trong Từ điển văn học (bộ mới) đồ sộ xuất bản năm 2005 của Việt Nam không hề có mục từ về Sti-ven-xơn (Stevenson). Điều đó chẳng có gì là khó hiểu bởi ngay tại quê hương mình, nhà văn này mới được nhắc đến và đề cao vào năm 2006.

 

          Từ điển nước ngoài giới thiệu Stevenson là nhà tiểu thuyết chuyên viết truyện phiêu lưu có tài, nhà thơ và là đại biểu tiền lãng mạn của văn học Anh ngữ. Theo G.K. Chesterton, “ông là người có vẻ như nhặt từ ngữ và đính ngay vào ngòi bút của mình, y như một người đang chơi thẻ” (một trò chơi cổ, tiếng Anh gọi là spilikin – ĐNH). Ông được các nhà văn nổi tiếng như Jorge Luis Borges, Ernest Hemingway, Rudyard Kipling, Vladimir Nabokov…thán phục mạnh mẽ. Tuy nhiên một số nhà phê bình lúc bấy giờ lại chối bỏ Stevenson bởi ông quá đại chúng, không viết theo quan niệm của văn học hiện đại. Điều lạ là gần đây người ta đã nhìn lại tính “đại chúng” của Stevenson và đặt ông vào danh sách những nhà văn hàng đầu viết bằng tiếng Anh.

           Robert Louis Stevenson (13/11/1850 – 03/12/1894): sinh trưởng ở Edinburgh, Scotland, trong một gia đình mà ông và cha đều là những kĩ sư hải đăng trứ danh. Gia đình muốn ông nối nghiệp nhưng chính nghề nghiệp của cha và ông lại gieo vào Stevenson máu phiêu lưu. Ông ngoại Lewis Balfour là một giáo sư, một triết gia đức độ. Thời thơ ấu, Stevenson thường quanh quẩn nơi nhà ông ngoại vào những lúc rỗi để nghe những bài thuyết giảng mê hồn của ông, đến nỗi ông cho rằng chẳng bao giờ trong cuộc đời được nghe một bài giảng nào hay như thế nữa.      

          Stevenson “thừa hưởng” ở mẹ ông – bà Margaret Balfour - bệnh đau phổi, căn bệnh khiến ông thường “thu mình trong cái đụn chăn” suốt mùa đông. Suốt mùa hè, ông được khuyến khích chơi ngoài trời, nơi ông tỏ ra là một thằng bé hoang dã và thiếu sự chăm sóc. Năm 11 tuổi, sức khoẻ của ông khá lên đến nỗi cha mẹ chuẩn bị đưa ông đến Đại học Edinburgh, “hoạch định” việc nối nghiệp kĩ sư hải đăng cho ông. Thời gian này, ông đọc nhiều và đặc biệt thích Shakespeare, Walter Scott, John Bunyan và Nghìn lẻ một đêm của Ả Rập. Năm 17 tuổi, ông vào học đại học Edinburgh nhưng nhanh chóng phát hiện mình không có chút kiên nhẫn nào để theo học. Ông quyết định chuyển sang văn chương.

Anh Stevenson 2

NHỮNG CUỘC XÊ DỊCH

VÀ NHỮNG TRƯỚC TÁC NÓNG HỔI SỰ SỐNG

 

          Lập gia thất và rày đây mai đó

          Bốn năm sau đó, ông hầu như dành toàn bộ thời gian để du ngoạn. Và theo điều nghiên về khí hậu thì điều đó có lợi cho sức khoẻ của ông. Ông đi xa và thường xuyên đến Fontainebleau, Barbizon, Grez và Nemour. Ông cũng thường đến Paris thăm các viện bảo tàng và nhà hát. Thời gian này, ông đánh bạn với nhiều người và gặp gỡ người vợ tương lai là Fanny Vandergrift Osbourne - một người Mỹ hơn ông 10 tuổi và đã yên bề gia thất. Ông miêu tả các chuyến đi trong An Inland VoyageTravels with a Donkey in the Cévennes. Để bổ sung thêm, ông viết hơn hai mươi bài báo và bút kí đăng trên các tạp chí khác nhau. Trong con mắt cha mẹ, ông là người phung phí thời gian, vô công rồi nghề nhưng kì thực ông đang chuyên tâm vào việc học tập các kiểu viết và mở rộng tầm nhìn để trở thành người sáng tác văn chương thực thụ.

          Stevenson và Fanny Vandergrift Osbourne gặp nhau tại Pháp vào năm 1876. Mấy tháng sau, khi Fanny trở về quê nhà ở San Francisco, Stevenson quyết định theo đuổi. Bạn bè khuyên ông không nên đi vì họ thừa biết tính ông bố của Stevenson nhưng ông vẫn ra đi mà không nói với cha mẹ một tiếng nào. Ông chọn chỗ hạng chót để không những tiết kiệm tiền mà còn tìm hiểu thiên hạ “đi đứng” như thế nào và tăng tính mạo hiểm thú vị của sự xê dịch. Từ New York, ông đến Califonia. Sau này ông viết về những trải nghiệm trong An Amateur EmigrantAcross the Plains. Mặc dù đó là những trải nghiệm cực kì giá trị cho sự nghiệp văn chương của nhà văn nhưng chúng “công phá” sức khoẻ của ông và ông suýt chết khi đến Monterey. Ông được những người nuôi gia súc ở đó chăm sóc.

          Tháng 12/1879, sức khoẻ Stevenson khá lại đủ để ông tiếp tục đến San Francisco, nơi ông trải qua mấy tháng trời chống chọi với “toàn bộ nỗi cô đơn với 45 cent một ngày, thỉnh thoảng không có đồng nào, với những công việc nặng nhọc và những ý nghĩ bệnh hoạn”, nỗ lực xây đắp mộng viết lách. Nhưng cuối mùa đông năm đó, sức khoẻ ông suy sụp trở lại. Vandergrift – lúc bấy giờ đã li dị và vừa hồi phục sau một trận ốm - đến bên giường bệnh và chăm sóc Stevenson qua khỏi cái đận ấy. Về điều này, Stevenson nhớ lại là tinh thần ông xao động mãnh liệt một cách tuyệt vời, và nó (điều đó) khiến thân xác ông cảm thấy thoải mái vô cùng. Khi cha Stevenson hay chuyện, ông cụ gửi cho ông một ít tiền để giúp ông vượt qua cái đoạn khốn khó này.

          Tháng 5/1880, Stevenson kết hôn với Fanny. Cùng với vợ và con trai Lloyd (con riêng của Fanny ?!), ông đến San Francisco, tới Napa Valley và trải qua “mùa hè trăng mật” trong một cái lều trại bỏ hoang đổ nát ở Mount Saint Helena. Trải nghiệm này được ông đăng trong bài The Silverado Squatters. Vào tháng 8, ông từ New York trở về Anh, gặp lại gia đình và người bạn thân Sidney Colvin đang hồ hởi đón ông tại hải cảng Liverpool. Dần dần Fanny đã “hàn gắn” được phần nào mối quan hệ giữa hai cha con ông và tạo lập được vị trí của cô ấy trong gia đình với tất cả sự khéo léo và thông minh của mình.

          Quyết định định cư ở Châu Âu

          Từ năm 1880 đến 1887, Stevenson tìm ra cách cư trú sao cho thích hợp với tình trạng sức khoẻ của mình. Suốt những mùa hè, ông ở Anh và Scotland, chẳng hạn ở Westbourn, Dorset. Ông tìm đến ngọn hải đăng cao nhất Scotland do một người bác của mình xây dựng. Vào mùa đông, ông đến nước Pháp có ánh mặt trời, sống ở Davos-Platz và Chalet de Solitude nơi mà ông cảm thấy vô cùng hạnh phúc. “Tôi có quá nhiều việc để làm cho cuộc sống trở nên ngọt ngào”, ông viết, “ Tiếc là tôi không có cái mà người khác có: sức khoẻ. Các bạn sẽ nổi giận khi nghe điều này, tôi thì tôi tự tin rằng rốt cuộc đó là điều tốt nhất. Tôi tin vào điều đó kể cả trong những ngày tháng tồi tệ và bây giờ tôi không chút thẹn thùng để khẳng định điều này”. Bất chấp tình trạng sức khoẻ, ông sáng tác một loạt tác phẩm nổi tiếng: Treasure Island (Đảo giấu vàng), Kidnapped (Bắt cóc), The Strange Case of Dr.Jekyll and Mr.Hyde (Tình cảnh lạ lùng của bác sĩ Jekyll và ngài Hyde) - những cuốn tiểu thuyết đưa tên tuổi Stevenson vang xa; hai tập thơ là A childs Garden of Verses (Vườn thi ca của một đứa trẻ) và Underwoods (Những khóm cây thấp).

Anh Stevenson 3 2

Ngôi nhà thời thơ ấu của Stevenson ở Heriot Row

          Hành trình đến Thái Bình Dương

          Khi người cha qua đời vào năm 1887, Stevenson cảm thấy tự do và thực hiện lời khuyên của các thầy thuốc trong việc “thử” sống trong điều kiện khí hậu hoàn toàn khác biệt. Gia đình ông đưa mẹ già đến Colorado; nhưng sau khi cập cảng New York thì ông quyết định đến ở Saranac Lake vào mùa đông. Và trong mùa đông đó, ông viết một số bút kí tuyệt vời, trong đó có Pulvis et Umbra; bắt đầu viết tiểu thuyết The Master of Ballantrae và lập kế hoạch cho mùa hè là đi thuyền đến Thái Bình Dương. “Khoảnh khắc tự hào nhất của đời tôi”, ông nói, “là lướt theo dây lèo ở đuôi thuyền và bộ đồ kì dị đang mặc trên người”.

          Vào tháng 5/1888, Stevenson tậu một chiếc du thuyền nhãn hiệu Casco và đưa gia đình rời khỏi San Francisco. Bầu không khí biển cả nồng nàn hơi muối của cuộc phiêu lưu đã phục hồi sức khoẻ Stevenson và suốt gần ba năm ông mê mải la cà ở vùng biển nam và trung tâm Thái Bình Dương, viếng thăm những cụm đảo quan trọng nhất, dừng chân và nghỉ ngơi ở Hawaiian, nơi ông trở thành “người bạn tốt của vua David Kalakaua”. Ông cũng trải qua một thời gian ở Gibert Island, Tahiti và Samoa Island. Trong thời gian này, ông hoàn thành cuốn tiểu thuyết The Master of Ballantrae, soạn hai ca khúc dựa trên truyền thuyết của cư dân trên các đảo đã từng ghé đến và viết The Bottle Imp (Thằng bé Rơm -truyện ngắn). Vốn sống của những năm tháng này được ông đưa vào những tác phẩm có giá trị và nhất là trong The South Sea. Chuyến hải hành thứ hai diễn ra vào năm 1889 với con trai Lloyd tham gia biểu diễn (có lẽ là những bài hát của ông?).

          Những năm cuối cùng

          Năm 1890, ông tậu một miếng đất rộng 400 acres (khoảng 1,6 cây số vuông) ở Upolu, một trong những đảo của Samoa. Ở đây, sau hai lần cố gắng trở về Scotland không thành, ông tự xác định với chính bản thân rằng, sau bao nhiêu biến cố, với tình cảnh hiện tại, Stevenson tự nguyện làm con nuôi của cư dân bản địa với cái tên là Tusitala. Ông có ảnh hưởng mạnh mẽ đến cư dân ở đây, những người luôn tìm đến xin ông lời khuyên và chẳng bao lâu sau ông bị “dính” vào chuyện chính trị bản xứ. Ông khuyên các quan chức gốc Âu thiết lập luật lệ đối với những người bản xứ vốn dĩ dân trí thấp và sau nhiều nỗ lực không đạt được kết quả gì, ông cho đăng bài A Footnote to History. Đây (tức bài viết A Footnote to History) là một phản ứng chống lại trật tự hiện thời và hậu quả là hai quan chức bị thải hồi. Một thời gian dài, Stevenson lo âu ông có thể bị trục xuất.

          Ngoài việc xây dựng nhà cửa, phát quang đất đai và giúp đỡ người bản xứ bằng cách này hay cách kia, ông dành thời gian để viết. Trong niềm hào hứng đó, ông cảm thấy rằng “Không ai một lúc lại có quá nhiều cơ hội”. Ông sáng tác The Beach of Fallesa, Catriona (được in ở Mỹ với tựa đề David Balfour -tiểu thuyết), The Ebb – Tide (Thuỷ triều xuống -tiểu thuyết, viết chung với Lloyd Osbourne) và The Vailima Letters (Những bức thư ở Vailima - truyện ngắn).

          Suốt cả năm 1894, Stevenson cảm thấy chán chường; ông kinh ngạc khi nhận thấy mình cạn kiệt sức sáng tác và hoàn toàn buông trôi mọi việc. Ông có viết rằng mọi việc đều quá sức với ông, một cách thảm hại. Ông cảm nhận rõ ràng rằng, điều tốt nhất ông có thể viết là hai chữ “bất động”. Thậm chí ông còn sợ rằng ông có thể trở thành một người có được giúp đỡ thì cũng chẳng làm gì nổi nữa. Ông quay quắt với ý nghĩ “Tôi muốn bị xua đuổi; không chốn nương thân. Bị kéo lê, bi bắn, bị rơi từ trên ngựa xuống, ái chà, bị treo lủng lẳng, còn hơn là trải qua cái cảm giác tan rữa từ từ”. Rồi đột nhiên một nguồn năng lượng cũ kĩ nào đó quay lại với ông và ông bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết Wair of Hermiston (Đập nước Hermiston). “Nó tuyệt vời đến mức khiến tôi rùng mình”, ông nói. Ông cảm thấy đây là việc tốt nhất ông có thể làm được. Ông tin: “Ốm đau và khoẻ khoắn, tôi đã có một cuộc sống huy hoàng với chúng, không ân hận điều gì, thương tiếc đến từng cái nhỏ nhoi nhất…tất cả đã chấm dứt rồi, tôi khó mà chấp nhận hoán đổi cuộc đời mình với cuộc đời của bất kì ai cùng thời mà tôi đã sống”.

          Ông thực hiện ước muốn của mình mà không biết đến điều đó. Vào buổi sáng ngày 3 tháng 12 năm 1894, ông làm việc cật lực như thường lệ với cuốn tiểu thuyết Wair of Hermiston. Tối đó, trong khi trò chuyện với vợ và ráng sức mở chai rượu, ông đột ngột kêu lên “Cái gì thế kia!”. Rồi ông hỏi vợ: “Mặt anh trông lạ lắm phải không?” và gục xuống bên người vợ yêu dấu. Ông chết trong vài giờ sau đó, nhiều khả năng là một ca xuất huyết não, vào năm 44 tuổi.

          Các thổ dân kiên quyết tụ họp xung quanh thi thể ông thành một vòng tròn suốt đêm và khiêng Tusitala của họ (tiếng Samoa có nghĩa là “Người viết truyện”) trên vai đưa ra gần Mt Vaea và chôn ở một chỗ trông ra biển cả. Một tấm bia được dựng lên, trên đó khắc bài tưởng niệm trong lễ cầu siêu, đó là một đoạn mà  sinh thời ông thường có ý định lấy làm bài văn bia cho mình. Xin trích nguyên văn như sau:

                             Under the wide and starry sky,

                             Dig the grave and let me lie.

         

                             Glad did I live and gladly die,

                             And I laid me down with a will.

                             This be the verse you grave for me:

                             Here he lies where he longed to be;

                             Home is the sailor, home from sea,

                             And the hunter home from the hill.

          Giản dị mà thâm trầm, thanh thản trong tê quẫy. Xin nhường cho độc giả tự hoàn thành phần dịch của riêng mình. Bởi lẽ, về cảm thụ nghệ thuật, tác phẩm đích thực có bao giờ là chính nó qua mọi thời đại, ở từng cá nhân bạn đọc?

TÀI NĂNG ĐÍCH THỰC ĐƯỢC TRUY PHONG

 

          Ngoài tác phẩm đã nêu, Stevenson còn có các tiểu thuyết The Black Arrow (1983), Prince Otto (1885), The Wrong Box (1889, viết chung với Lloyd Osbourrne), The Wrecker (1892, đồng tác giả với Lloyd Osbourrne). Điều thú vị là khoảng một nửa sự nghiệp tiểu thuyết của Stevenson được chuyển thể sang nghệ thuật thứ bảy. Về thơ, phải kể thêm tập Songs of Travel and Other Verses (1896). Hàng loạt truyện ngắn được tập hợp trong các tuyển tập: The Merry Men and Other Tales and Fables, Island Nights Entertainments, New Arabian Nights và các truyện in lẻ khác. Vô số những bút kí, tiểu luận, thư từ có giá trị nghệ thuật và các bài viết, tuyển sách về lữ hành. Chưa kể ông còn là tác giả của một số nhạc phẩm được công diễn nhiều lần.

          Sinh thời tên tuổi Stevenson đã vang dội, nhưng với sự phát triển của văn học hiện đại sau thế chiến I, ông được nhìn nhận chủ yếu vào thế kỉ XX như là một nhà văn hạng hai, bị “ném” vào “sọt” nhà văn của văn học thiếu nhi và truyện kinh dị. Với sự đánh giá của các tác giả như Virginia và Leonard Woolf, ông dần dần bị đưa ra khỏi danh mục văn chương được dạy trong nhà trường. Sự chối bỏ ông lên đến đỉnh cao khi trong hợp tuyển  Oxford Anthology of English Literature 2000 trang, xuất bản năm 1973, Stevenson không hề được đề cập; và cuốn Norton Anthology of English Literature cũng khước từ ông từ năm 1968 đến năm 2000 (các ấn bản thứ nhất đến thứ bảy), chỉ nói đến ông trong ấn bản thứ tám (năm 2006). Cuối thế kỉ XX diễn ra sự đánh giá lại Stevenson. Ông được xem là nghệ sĩ thượng hạng và thâm thuý, một lí thuyết gia văn chương, một nhà phóng sự và phê bình xã hội, một chứng nhân của lịch sử thuộc địa các đảo vùng Thái Bình Dương và là một nhà nhân văn chủ nghĩa. Ngày nay ông được tái thẩm định,  nhiều trường phái, tổ chức bầu chọn cho Stevenson. Bất chấp các lí thuyết này nọ được đưa ra, Stevenson vẫn còn nguyên vẹn sức phổ biến toàn cầu của mình. Theo Index Translation, Stevenson được xếp vào tốp 25 tác giả được dịch nhiều nhất trên thế giới, đứng trên cả Vitorians Charles Dickens, Oscar Wilde và Edgar Allan Poe.

          Stevenson đã “vào” sách giáo khoa của học sinh Việt Nam: lớp 5, bài tập đọc Khuất phục tên cướp biển. Bài văn đó trích từ tiểu thuyết lừng danh của nhà văn: Đảo giấu vàng. Đảo giấu vàng (Treasure Island) được sáng tác vào năm 1883, thành tựu đầu tiên của nhà văn. Đó là cuốn tiểu thuyết về cướp biển, về báu vật được chôn giấu, những cuộc phiêu lưu mạo hiểm ghê người; nhiều lần được dựng thành phim. Ban đầu ông đặt tên tác phẩm là The Sea Cook (Gã đầu bếp viễn dương) nhưng một biên tập viên đã sửa nhan đề. Shilver - tên nhân vật chính của tác phẩm - về sau được “đặt cho” một loạt các nhà hàng miệt biển (Thái Bình Dương ?). Rõ ràng cái tên Đảo giấu vàng nghe hay hơn nhiều so với Gã đầu bếp viễn dương vì nó gợi ra sự cuốn hút từ phía độc giả về những cuộc viễn du mịt mùng, rùng rợn trong thế giới cướp biển hung tợn và ma quái. Nói cách khác, chỉ riêng cái nhan đề  Đảo giấu vàng đã làm toát lên được tính chất đặc thù của thể tài tiểu thuyết phiêu lưu. 

Anh Stevenson 4

Poster phim Đảo giấu vàng năm 1934

Các em học sinh yêu thích văn chương có thể tìm đọc cuốn tiểu thuyết Đảo giấu vàng do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành năm 1997 qua sự chuyển ngữ từ tiếng Pháp của dịch giả Hoàng Lan Châu. Lúc đó, các em sẽ “đồng hành” cùng chú bé Jim Hawkins, vị bác sĩ nhân từ, chính nhân quân tử Liversey, ngài Trelawney bép xép nhưng tốt bụng… ra đảo hoang, nơi tên tướng cướp Flìnt khét tiếng từng chôn giấu cả núi vàng, chiến đấu chống lại bè đảng khát máu của Shilver để lấy vàng mang về giúp cho dân nghèo. Lúc đó, các em mới thấu hiểu vì sao, chỉ tính riêng về phim nhựa, Đảo giấu vàng đã có 13 phiên bản và hình ảnh gã hải tặc đội mũ rộng vành, với con chim đậu trên vai đã đi vào trí nhớ của bao nhiêu thế hệ độc giả, khán giả.

(Bài đã đăng trên Tạp chí Dạy và Học ngày nay số tháng 8, năm 2008)

                                                              Đặng Ngọc Hùng