Năm giai thoại về Shakespeare

Việc tạo ra giai thoại về Shakespeare từ lâu đã là một điều phổ biến đến mức được gọi bằng thuật ngữ “sự sùng bái Shakespeare”.

 

Trong một bức thư gửi cho Goóc-ki, văn sĩ Pháp R.Rô-lanh thán phục bày tỏ: “Chưa bao giờ chúng tôi đọc trong văn học Nga một tác phẩm nào hay hơn cuốn Thời thơ ấu của anh”. M. Goóc-ki viết Thời thơ ấu vào năm 1913 ở Ý sau khi Cách mạng Nga lần thứ nhất thất bại. Như vậy tác phẩm tự thuật bất hủ này ra đời lúc ông đã 45 tuổi trong hoàn cảnh lưu vong xứ người. Khoảng cách thời gian đó đủ để tác giả làm hồi sinh “Thời thơ ấu” của mình trong vùng mĩ cảm được đan bện bằng hồi ức và hoài niệm. Hiện thực cuộc sống nơi nhà ông ngoại Ka-ri-sin – cái địa ngục trần gian – vừa vẫn còn đó vừa chập chờn xa tít nhường chỗ cho cái thế giới lung linh kì ảo mà tâm hồn thơ trẻ của nhà văn lúc ấy mở ra đón nhận và lưu giữ cẩn thận, nguyên vẹn cho đến lúc ông chấp bút thành truyện.

          Thế giới êm ái, lung linh đó gồm những con người như bà ngoại A-cu-li-na, bác thợ nguội Gri-gô-ri hiền hậu, anh thợ kiêm con nuôi của ông bà ngoại Tsư-ga-nốc hào hiệp, vô tư, bác “tốt lắm” và … đến chương IX xuất hiện thêm ba đứa trẻ hàng xóm.

Anh chât thơ 2

          Chất thơ vốn là “đặc quyền”, “ưu thế” của một thể loại văn học có tên là thơ (với nội hàm văn vần). Theo sự phát triển của văn học ở phương diện biểu hiện, chất thơ còn được tìm thấy ở những thể loại khác, thể hiện ở sự giao ứng và vang hưởng của tâm hồn con người trong những tình huống được phản ánh; sự lên tiếng của kỉ niệm gắn với đoạn đời, thân phận; tính cách tràn đầy xúc cảm, làm lay động tâm hồn con người. Chính vì thế có người nói truyện ngắn đôi khi còn thơ hơn cả thơ.

          Bản thân nhan đề Thời thơ ấu đã có chất thơ bởi thời thơ ấu, xét về cơ bản, là thời đoạn đẹp nhất trong cuộc đời của mỗi con người. Tuổi thơ là tuổi thần tiên, danh từ này ai cũng nằm lòng. Sau hai lần bán nhà, ông ngoại Ka-ri-sin của A-li-ô-sa tậu một ngôi nhà mới ở phố Ka-nát-nai-a (chương VIII). Ngôi nhà mới nhỏ nhưng có sân, vườn và đặc biệt là có “nhiều xó xỉnh thuận lợi hình như cốt dùng để chơi trò ú tim”. Nhà của viên đại tá Ốp-xi-an-nai-cốp ở phía bên trái khu vườn của nhà ông ngoại. Đó là một ngôi nhà im lìm, khêu gợi trí tò mò vì A-li-ô-sa “có cảm tưởng rằng ngôi nhà xám đó che dấu một cuộc sống khác thường, đầy bí mật như trong các câu chuyện cổ tích” (giữa chương IX). Bắt đầu từ đây, chất thơ toát lên qua tầm nhìn, cách nhìn của tâm hồn tuổi nhỏ.

          Ngày nào A-lo-ô-sa cũng dán mắt vào ngôi nhà Ốp-xi-an-nai-cốp. Chú bé phát hiện ra bao điều lạ. Nhưng cái khiến chú quan tâm hơn cả là ở đó có ba đứa trẻ chiều nào cũng chơi ở sân cho đến tối mịt. A-li-ô-sa “thích thái độ săn sóc của chúng đối với nhau, nhất là của hai thằng anh đối với đứa nhỏ”. Và điều gì đến đã đến, theo cái cách rất thơ, rất mộng: Ba anh em nhà Ốp-xi-an-nai-cốp chơi trò ú tim, thằng cả trốn vào xe trượt tuyết, thằng thứ hai đi tìm, thằng bé em dại dột nhảy lên chiếc gàu không trên thành giếng. Chiếc gàu chìm xuống ngay lập tức, A-li-ô-sa lao đến nắm được sợi dây, cùng lúc thằng anh cả chạy đến tiếp sức. Thằng bé được cứu sống! Chuyện xảy ra chóng vánh. A-li-ô-sa xuất hiện trong tư thế của một trang hiệp sĩ cứu nhân độ thế. Bằng chứng là tuần lễ sau, mở đầu trích đoạn Những đứa trẻNgữ văn 9, thằng anh lớn đã gọi A-li-ô-sa: “Xuống đây chơi với chúng tôi”.

          Thế đấy. Tâm hồn tuổi thơ trong trẻo xua tan sự cách bức nghiệt ngã về đẳng cấp. Tình bạn sơ giao hình thành giữa ba đứa con ông đại tá quyền uy và thằng bé lem luốc cháu ông chủ lò nhuộm sa sút. Và câu chuyện của chúng cũng thơ lắm: những trận đánh đòn của người lớn, chuyện về những con chim biết hót và buồn thay .. là chuyện về người mẹ ruột đã mất. Bố A-li-ô-sa qua đời, mẹ đi bước nữa biền biệt phương trời nào không biết; lũ trẻ nhà đại tá sống với dì ghẻ. Sự tương cận về hoàn cảnh khiến lũ trẻ thương cảm nhau, đơn giản mà sâu sắc biết nhường nào. Đúng lúc ấy, lão đại tá – hiện thân của phú ông hiện đại – xuất hiện với ý đồ chặt đứt tình bạn “môn đăng hộ đối”. Nhưng lão đã thất bại vì quá muộn. Lão muộn hơn, yếu hơn những câu chuyện cổ tích mà ở đó người chết được sống lại nhờ phép lạ mà A-li-ô-sa đã háo hức và chân thành kể cho lũ con của lão nghe. Bất luận sự hành hung, cấm đoán của lão đại tá, lũ trẻ vẫn đến với nhau. Ba đứa trẻ con lão đại tá kể cho A-li-ô-sa cuộc sống buồn tẻ của chúng, còn A-li-ô-sa đáp lại bằng những câu chuyện cổ tích làm quà. Những câu chuyện cổ tích đó lấy từ “thư viện sống là bà ngoại A-cu-li-na. Đọc Những đứa trẻ, độc giả cảm thấy lòng ấm lên, ấm lại khi chứng kiến những câu chuyện cổ tích kia đã phủ lên cuộc sống của những đứa bé một thế giới khác thoát li cái phố nhỏ xám xịt, nghèo nàn và trì độn của nước Nga cuối thế kỷ XIX. Đó là thế giới, như Goóc-ki đã viết, của “ngày trước”, “trước kia”, “một trăm năm”. Nói cách khác, thế giới đó thanh lọc lũ trẻ khỏi nỗi sợ hãi và chán chường trước thực tại u ám. Viết đến đây, tôi lại nhớ đến một đoạn văn tuyệt vời của Goóc-ki mà các em học sinh nên chép vào sổ tay văn học: “Trong các truyện cổ tích, người ta bay trên không trung, ngồi trên tấm thảm biết bay, đi hia bảy dặm, phục sinh những người đã chết bằng cách rắc nước thần lên mình họ, trong một đêm thôi cũng xây dựng xong một lâu đài, và nói chung truyện cổ tích mở ra trước mắt tôi một cánh cửa sổ trông vào một cuộc đời khác trong đó có một lực lượng tự do, không biết sợ, đang tồn tại và hoạt động, mơ ước đến một cuộc đổi đời tốt đẹp hơn”.

Anh chât thơ 3

          Qua những kẽ hồi ức, chất thơ chảy giàn giụa trên những trang viết về tuổi thơ của Goóc-ki. Trong tình bạn với ba đứa trẻ hàng xóm, A-li-ô-sa có một tư thế đáng kể nhờ “lưng vốn” cổ tích. Cổ tích là ảo mộng, hoang đường nhưng cổ tích cũng thần kì bởi nó nuôi dưỡng tâm hồn con người ta về những ước mơ, điều thánh thiện, về lẽ phải và niềm tin. Trong tác phẩm nói chung và đoạn trích nói riêng có hai người bà: người bà trong cổ tích và người bà bằng xương bằng thịt A-cu-li-na của A-li-ô-sa. Trong vùng ánh sáng của chất thơ, người bà nào cũng tốt. Những đứa trẻ tin tuyệt đối vào điều đó, thể hiện qua “cặp mắt rất sáng, nhưng dịu dàng như ánh sáng của những ngọn đèn trong nhà thờ” của thằng anh cả. Sau này, cậu bé A-li-ô-sa vào đời bằng nghề bới rác. Ngay cả lúc đó, chất thơ – thứ chất liệu thơm tho được truyền tải từ tình thương yêu của bà ngoại và những câu chuyện cổ tích do bà kể - vẫn vẹn nguyên trong cậu bé để tâm hồn cậu thêm phong phú, để cậu có thêm sức mạnh đương đầu với sóng gió của cuộc đời. Cũng vậy, mai đây khi lớn lên, một lúc nào đó các em có ngoái nhìn về thời “Những đứa trẻ” ở lớp 9, sẽ không ai nhớ lão đại đá ria trắng, mặc áo dài nâu lùng thùng mà chỉ thấy hiển hiện khu vườn có “một cây du, một cây bồ đề và một bụi hương mộc rậm rạp” với một lỗ hổng mà lũ trẻ nghịch ngợm khoét ra để tìm đến và sẻ chia tâm tình với nhau. Đó là gì nếu không phải là chất thơ?

(Bài đã đăng trên Tạp chí Dạy và Học ngày nay số tháng 2 năm 2007)

ĐẶNG NGỌC HÙNG